Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Xin chào Luật sư! Trước hết tôi xin trình bày về Đơn tố cáo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp và Phát triển X

Kính gửi: P. CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN HUYỆN X, TỈNH Y

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN X

Họ và tên tôi: N.V.A Sinh ngày:…1972

Chứng minh nhân dân số:…

Hộ khẩu thường trú:… Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y

Chỗ ở hiện tại:…Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y

Hiện đang là Phó giám đốc Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp và Phát triển X

Địa chỉ văn phòng Công ty:… Phố M, Phường N, Quận O, TP P.

Tôi làm đơn này tố cáo và đề nghị Quý cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của: Anh: Nguyễn Văn A Sinh ngày:……1983.

Hộ khẩu thường trú: Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y

Chỗ ở hiện tại: Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y

Vì anh Nguyễn Văn A đã có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Công ty tôi với số tiền là 30.100.000 đồng Sự việc cụ thể như sau:

Ngày 15/07/2015 Công ty tôi có chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của anh. Nguyễn Văn A số tiền là 65.000.000 đồng để chi phí các khoản trong công việc của công ty như sau.

– Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 4.400.000 đồng.

– Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh A số tiền là 5.500.000 đồng.

– Chi phí tiền mua vật tư cột sắt để trồng tại TT Viettel huyện K là 5.000.000 đồng.

– Số tiền còn lại là 50.100.000 đồng Công ty chỉ đạo anh A chi phí cho các việc thuộc chi phí khác của Công ty.

– Nhưng anh A chỉ sử dụng số tiền trên chi những công việc cụ thể như sau.

– Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 4.400.000 đồng.

– Thanh toán lương công nhân của Công ty là anh B số tiền là 5.500.000 đồng.

– Công ty đã xác nhận anh A đã chi số tiền 25.000.000 đồng vào công việc của Công ty là đúng.

– Số tiền còn lại là 30.100.000 đồng anh A đã không chi phí vào công việc của Công ty giao mà chiếm đoạt số tiền đó và rời khỏi Công ty, tắt máy điện thoại Công ty liên lạc với anh Nguyễn Văn A nhiều lần nhưng không thấy trả lời và tắt máy, Công ty đã cử anh B lần thứ nhất sang tận nơi ở hiện tại của anh A tại Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y ngày 26/07/2015 nhưng không gặp anh A ở nhà.

– Vào ngày 02/08/2015 Công ty có làm thông báo lần thứ nhất tới anh A và chuyển qua địa chỉ Email cho anh A về việc yêu cầu anh A tới Văn phòng Công ty để làm thủ tục bàn giao công việc còn tồn tại liên quan đến hồ sơ và các công việc còn tồn tại do anh A thi công và quản lý trong thời gian làm việc tại Công ty nhưng anh A không chấp hành mà còn dùng thủ đoạn liên lạc với Đối tác của Công ty nói những lời không tốt mang tính chất phá hại và gây mất uy tín giữa Công ty và Đối tác của Công ty.

– Lần 2 vào ngày 06/08/2015 Công ty lại cử anh B tới nhà anh A để động viên và đề nghị anh A lên tới văn phòng để làm việc cụ thể với Công ty dù làm việc nữa hay không cũng phải bàn giao cụ thể công việc cho người khác của Công ty để tiếp quản nhưng anh A đã trả lời dứt khoát với Anh B là không bao giờ sang làm việc mà còn có thái độ hăm dọa sẽ phá công ty bằng nhiều hình thức.

– Ngày 06/08/2015 Công ty không thấy anh A tới Công ty làm việc theo thông báo lần thứ nhất, Công ty làm tiếp thông báo lần 2 cho anh Nguyễn Văn A gửi về Công an Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y yêu cầu anh A về Văn Phòng Công ty làm việc trước ngày 10/08/2015 nhưng vẫn không thấy anh A tới làm việc theo yêu cầu của Công ty.

– Ngày 10/08/năm 2015 Công ty làm tiếp thông báo lần 3 cho anh A gửi về Công an Thôn L.M, Xã Q.H, huyện X, tỉnh Y yêu cầu anh A về Văn Phòng Công ty làm việc trước ngày 20/08/2015 nhưng vẫn không thấy anh Nguyễn Văn A tới Văn phòng Công ty làm việc theo yêu cầu.

– Từ những sự việc trên, có thể khẳng định anh Nguyễn Văn A đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi và Công ty sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của Công ty tôi.

– Qua thủ đoạn và hành vi như trên, anh A đã chiếm đoạt 30.100.000 nghìn đồng của Công ty tôi.

– Tôi cho rằng hành vi của anh A có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” – qui định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo đó, người nào có “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng, hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” thì phạm tội này.

– Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay tôi viết đơn này tố cáo anh A. Kính đề nghị Quí cơ quan giải quyết cho những yêu cầu sau đây:

– Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử anh A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

– Buộc anh A phải trả lại tiền cho Công ty tôi.

Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên.

Kính mong được xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn!

Xem thêm:  Đánh bạc dưới hình thức chơi Liêng sẽ bị sử phạt như thế nào ?

Tôi xin hỏi tình huống nêu trên việc yêu cầu trong Đơn tố cáo của tôi có đúng không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sựcủa Hỏi đáp Pháp lý.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự,:Luật sư tư vấn

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến Hỏi đáp Pháp lý. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Nội dung trả lời:

Trước hết, muốn xác định hành vi của anh Nguyễn Văn A có cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 hay không, cần xem xét những dấu hiệu định tội được nêu tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

Căn cứ theo khoản 1 Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Theo đó, để định anh A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với hay không cần chứng minh được A có sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của công ty.

Xem thêm:  Ép buộc người khác ký vào giấy vay nợ thì phạm tội gì ?

– Căn cứ vào dấu hiệu mục đích: anh A đã có mục đích chiếm đoạt số tiền được công ty giao cho để sử dụng vào mục đích chi trả một số chi phí của công ty, cụ thể: Sau khi nhận được số tiền Ngày 15/07/2015 Công ty tôi có chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của Anh. A số tiền là 65.000.000 đồng để chi phí các khoản trong công việc của công ty như đã nêu trên. Anh A chỉ thanh toán lương cho cho Anh B số tiền là 4.400.000 đồng; thanh toán tiền lương cho Anh A số tiền là 5.500.000 và sử dụng 25.000.000 đồng chi phí cho các việc thuộc chi phí khác của Công ty. Số tiền còn là 30.100.000 nghìn đồng Anh A không dùng để chi trả chi phí khác cho công ty nhưng cũng không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả lại cho công ty mà có hành vi rởi khỏi công ty.

– Căn cứ vào dấu hiệu hành vi: Để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản, anh A đã sử dụng thủ đoạn gian dối đối với công ty: Sau khi rời khỏi công ty, Công ty đã nhiều lần liên lạc với anh A nhưng không thấy trả lời và tắt máy; thậm chí có hành vi dùng thủ đoạn liên lạc với Đối tác của Công ty nói những lời không tốt mang tính chất phá hại và gây mất uy tín giữa Công ty và Đối tác của Công ty; hăm dọa sẽ phá công ty bằng nhiều hình thức khi công ty cử người đến nhà anh A để thông báo; có hành vi chống đối khi công ty gửi yêu cầu thông qua cơ quan chức năng, yêu cầu Anh A trở lại làm việc.

Xem thêm:  Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

– Căn cứ vào số tiền chiếm đoạt: Số tiền Anh A chiếm đoạt của Công ty là 30.100.000 nghìn đồng, thỏa mãn yêu cầu cấu thành tội phạm.

Do đó, xét những dấu hiệu kể trên, hành vi của Anh A đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét thấy, anh A là người có chức vụ, quyền hạn. Có nghĩa vụ bảo quản, sử dụng số tiền của công ty giao cho để thực hiện nhiệm vụ mà công ty giao cho. Tuy nhiên anh A đã thực hiện đúng nghĩa vụ được giao, mà lợi dụng sự tín nhiệm của doanh nghiệp để chiếm đoạt số tiền được giao. Do đó, áp dụng tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 139 Bộ luật, Theo đó, anh A sẽ phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ hai đến bảy năm theo quy định tại khoản 2 Điều 139, đồng thời có thể áp dụng hình phạt bổ sung: phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm đối với anh A theo quy định tại khoản 5 Điều này.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấnLuật sư tư vấn

Trân trọng!

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự

Luật sư Trung Dũng